HANSINGUYEN & FRIENDS
WELCOME TO KHUNG TROI THO NHAC HANSINGUYEN & FRIENDS

Home
TRANG NHAC
VIDEO
HSN & Friends
TRUYEN THO
LIEN HOAN KHUC
PHO CUOI-PHO CUOI
DuongThiLuocGiai
TRANG THO
DacBietGioiThieu
TRANG VAN
LUU BUT
WebsAlbum
GALLERY
GAMES
Am Nhac Viet
Van Chuong Viet















CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI

KHUNG TRỜI THƠ NHẠC

HÀN SĨ NGUYÊN and FRIENDS

 

 

oOo

NHỮNG ÁNG CỔ VĂN XUẤT SẮC

 oOo

 

 

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC


-Nguyễn Đ́nh Chiểu-

 

Hỡi ôi !

 

Súng giặc đất rền;

Ḷng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc c̣n danh nổi tợ phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mơ.

 

Nhớ linh xưa :

 

Côi cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đă ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy ḅng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen ś, muốn ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói ḷa, đâu dung lũ treo dê, bán chó.

Nào đợi ai đ̣i, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn ḱnh;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

 

Khá thương thay :

 

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo ḍng ở lính diễn binh;

Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

Mười tám ban vơ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu bầu ng̣i;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều ḿnh như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mă tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

 

Ôi !

 

Những lăm ḷng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nh́n chợ Trường B́nh, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cũng cam tâm;

Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lệnh theo quân cho đáng số.

 

Nhưng nghĩ rằng :

 

Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

V́ ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

V́ ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngă gió.

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mă tà, chia rượu lạt, gặm bánh ḿ, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn c̣n mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

 

Ôi thôi thôi !

 

Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm ḷng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo ḍng nước đổ.

Đau đớn bấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Năo nùng thay, vợ yếu chạy t́m chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngơ.

 

Ôi !

 

Một trận ngói tan,

Ngh́n năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hăy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta c̣n ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đ́nh miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đă rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương v́ hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

 

Hỡi ôi thương thay !

Có linh thượng hưởng.

 

Nguyễn Đ́nh Chiểu

 

 

REPLY

Ư KIẾN của Hàn Sĩ Nguyên

Trong thời buổi nước mất nhà tan cuối thế kỷ 19, văn học Việt Nam nổi lên 2 nhân vật LẪM LIỆT : Nguyễn Đ́nh ChiểuPhan Văn Trị , với cuộc đời lừng lững tiết tháo, văn phong sang sảng như chuông đồng, phất cao ngọn cờ TRUNG HIẾU TIẾT NGHĨA.

Nói đến Nguyễn Đ́nh Chiểu, nhiều người chỉ biết có truyện thơ LỤC VÂN TIÊN. Nhưng văn nghiệp của ông không chỉ có thế, bài VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC này chính là một trong số những áng cổ văn XUẤT SẮC, BẤT HỦ , có sức mạnh LAY ĐỘNG L̉NG NGƯỜI.

Tiếc thay ! Hậu nhân thời nay nhiều người không biết đến áng văn KỲ TUYỆT này, hoặc biết mà không cảm thụ nổi ! Như vậy há không phải là phụ ḷng người xưa lắm hay sao ?

- HSN-

 

 

Trở lại Trang VĂN
HSN and Friends
Đặc biệt giới thiệu

 



@Copyrights by HanSiNguyen