Trong cổ sử Trung Quốc, Phạm Thư chưa hẳn đă là một con người hoàn thiện, cũng tích oán cưu hờn, cũng ơn đền oán trả, cũng phạm nhiều sai lầm trong cuộc sống riêng tư cá nhân, cũng như trong hoạt động chính trị của nước Tần, cũng lo toan cho địa vị cá nhân, cũng tham luyến quyền hành, cũng đe nẹt hàn sĩ. Những điều ấy được ghi chép tỏ tường trong Sử Kư Tư Mă Thiên, phần Liệt truyện, đoạn nói về các biện sĩ “Phạm Thư -Thái Trạch”.
Dẫn xuất từ nguồn tư liệu cổ ít ỏi ấy, nhà giáo kiêm nhà thơ Việt Nam Hàn Sĩ Nguyên qua tác phẩm ỨNG HẦU PHẠM THƯ, có thể nói đă viết lại, đă vẽ lại, đă hư cấu, h́nh thành nên một Phạm Thư mới, khiến cho một thừa tuớng Phạm Thư thời xa xưa, vốn c̣n xa lạ với công chúng, xuất hiện trước mắt chúng ta như một nhân vật phi thường. Đó là một con người b́nh dị, có trí năng thông tuệ tuyệt vời, đă quán triệt được lẽ biện chứng trong cuộc sống của thời tao loạn, để mà hướng sự việc tiếp diễn theo mức tối ưu, đó cũng c̣n là một con người đạo đức vô song với niềm hiếu thảo,với nghĩa thủy chung, cư xử ân oán phân minh, nhân nghĩa vẹn toàn. Ở thời điểm tột đỉnh vinh quang, con người ấy vẫn không ham địa vị, không mê nữ sắc, không hề trở mặt quay lưng với người cùng khổ, với kẻ vô danh ngày xưa có ơn cứu mạng cho ḿnh; để rồi đem tấm ḷng biết ơn đáp đền trong muôn một, và cũng từ con người rất khốn khổ ấy mà Phạm Thư đă nghe ra, đă hiểu thấu tiếng nói của lương tri. Chu toàn đạo nghĩa, trọn vẹn ân t́nh, con người ấy c̣n biết tiến, biết thoái, quả là một sự kiện nhân sinh hiếm thấy xưa nay, đồng thời đó c̣n là mẫu mực của một đạo lư sống có thể truyền lưu cho đến muôn đời.
Phạm Thư là sản phẩm của một thời tao loạn, nhưng chính qua thời tao loạn ấy mà đức và tài của nhân vật này bộc lộ hết được tinh hoa. Có lẽ càng suy gẫm thêm, mỗi người trong chúng ta c̣n có thể t́m thấy được qua nhân vật này những điều kỳ thú cho một lẽ sống nhiệm mầu.
Đem những người xưa tiêu biểu ra viết thành thơ lục bát hơn ba ngàn câu, để mà hoằng dương đạo nghĩa, phổ biến nhân luân, HÀN SĨ NGUYÊN đă lặng lẽ làm một công việc ít thấy giữa thời buổi kinh tế thị trường đầy cảnh bon chen trục lợi, đầy những mưu toan thực dụng, đầy những tính toán đảo điên. Nhưng nét kỳ diệu của cuộc đời này vẫn tồn tại đó, qua tập truyện thơ Ứng Hầu Phạm Thư : Một vị thừa tướng từ thời cổ sử xa xôi mờ mịt của nước Trung Hoa giữa buổi loạn ly, đă trở lại như một con người hiện thực giữa cơi đời này .
Xin trân trọng giới thiệu với quư độc giả tập truyện thơ Ứng Hầu Phạm Thư, một sáng tác mà nhà giáo kiêm nhà thơ Việt Nam - ông HÀN SĨ NGUYÊN – đă đem những lời thơ hoa gấm dệt nên một áng diễn ca đầy ắp t́nh người.
Nhà văn Vũ Hạnh 12/2000
===============
GIỚI THIỆU THẠCH SANH LƯ THÔNG TÂN BIÊN
Bài của nhà vănVŨ HẠNH
Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu văn học, truyện thơ“Thạch Sanh Lư Thông” xuất hiện cách đây khoảng năm thế kỷ. Đó là một tác phẩm dân gian, không rơ tác giả, dài 1822 câu lục bát, thể hiện nội dung phổ cập bao đời là sự đấu tranh giữa thiện và ác, để rồi cuối cùng chiến thắng thuộc về lẽ thiện.
Con người tiêu biểu cho lẽ thiện này là chàng Thạch Sanh, không phải xuất thân từ nơi gác tía, lầu son mà là người sinh trưởng giữa miền dân dă, trong chốn hoang vu. Nơi con người ấy, phối hợp cả ba năng lực phi thừơng:
-Tinh thần sáng tạo phong phú, mạnh mẽ : biểu tượng bằng cây đàn thần.
-Khả năng sản xuất cần cù , vô biên : tượng trưng qua chiếc nồi đồng Thạch Sanh.
-Sức chiến đấu kiên cường, quyết thắng : thể hiện qua h́nh ảnh búa đồng, đao sắt, cung vàng , tên bạc.
Thạch Sanh c̣n là tiêu biểu cho sức mạnh quần chúng và đạo lư dân tộc.
Sức mạnh quần chúng ở đây là chàng làm chủ chiếc nồi đồng nhỏ bé mà có quyền phép lạ lùng - chiếc nồi đă có từ trong truyền thuyết về Nguyễn Minh Không đời Lư - thết đăi no nê đại binh của 18 nước chư hầu mà vẫn c̣n đầy, và chiếc nồi ấy cũng chính là khả năng bất tận tạo ra lúa gạo cho đời của những con người lao động.
Đạo lư dân tộc ở nơi Thạch Sanh chính là tinh thần đạo nghĩa đi đôi với sức chiến đấu kiên cường. Đạo nghĩa đối với mẹ cha, đối với bạn hữu, với người ḿnh yêu, với cả kẻ thù,với những con người đă không cư xử tốt với ḿnh. Ngoài ra,Thạch Sanh c̣n là người nghệ sĩ lư tưởng không hề vỗ ngực xưng danh; giữa vô số bạc vàng, châu báu Thủy vương ban tặng, chàng chỉ xin mỗi một cây đàn, gạt bỏ giàu sang, chọn lấy nghệ thuật, nhất quyết quay về nơi gốc đa xưa, một sự quay về bám lấy cội nguồn…
Con người phản diện Lư Thông tượng trưng cho sự gian manh, giả dối, ích kỷ, bạo tàn. Đó là mẫu người tiêu biểu cho sự xấu xa ở mọi thời đại, mẫu người chỉ biết vận dụng đủ mọi thủ đoạn, chớp lấy mọi cơ hội, sẵn sàng biến kẻ khác thành thứ phương tiện cho ḿnh trục lợi. Cuối cùng tên gian ác, bất nhân Lư Thông cũng bị cách chức, bị đuổi về quê, giữa đường lại bị ngay lưỡi tầm sét của trời giết chết, cả con lẫn mẹ, và phải hoá kiếp thànhloài bọ hung đời đời. Người hiếu nghĩa, lương thiện Thạch Sanh th́ lấy được công chúa và lên tiếp quản ngai vàng.
Tác phẩm dân gian mang những nội dung tích cực trên đây vẫn tồn tại trong ḷng người dân Việt qua nhiều thế kỷ và đến ngày nay, những giá trị ấy về mặt nội dung vẫn c̣n tính chất hợp thời. Tuy nhiên, với văn phong xưa cũ, với nhiều câu chữ c̣n nặng tính chất mộc mạc b́nh dân, đặc trưng của văn chương truyền khẩu và sự kết cấu lan man của thể loại truyện kể, Thạch Sanh Lư Thông chính truyện (c̣n gọi là Thạch Sanh Lư Thông cổ bản) chỉ được xem như một tác phẩm dân gian truyền khẩu, chưa được đánh giá như một tác phẩm văn học thực sự, đôi lúc, trong nhiều t́nh huống, đă làm giảm thiểu hứng thú trong ḷng người đọc
Với mục đích trong sáng là bảo tồn một trong những vốn quư của dân tộc, hiện đại hóa những vốn quư ấy, để chúng dễ dàng tiếp cận cùng độc giả thời nay, nhà giáo kiêm nhà thơHÀN SĨ NGUYÊN đă không ngại đầu tư nhiều công sức hoàn thành cái công việc khá đặc biệt là hiệu đính, chỉnh lư, tân biên lại tác phẩm.
Ông Hàn Sĩ Nguyên đă trân trọng bảo lưu, giữ lại những lời thơ nào c̣n dễ chấp nhận, những t́nh tiết nào c̣n hợp nội dung và ông cố gắng thay câu đổi chữkhi cần thiết, thậm chí bố cục lại một số đoạn tương đối rườm rà trong cổ bản, đồng thời tiến hành phân đoạn giúp cho người đọc không bị lạc lối, ch́m đắm trong ḍng suối thơ trải dài tưởng chừng như bất tận … Đây là một cách thể hiện đầy ḷng tha thiết -cũng như trân trọng- của ông đối với số vốn liếng ít ỏi của nền văn học dân gian. Có thể nói, qua ng̣i bút biên tập, chỉnh lư, làm mới lại của Hàn Sĩ Nguyên, “Thạch Sanh Lư Thông” đă nhẹ nhàng, êm ả bước chân vào hàng ngũ những tác phẩm văn học thực sự vậy.
Quyển Thạch Sanh Lư Thông tân biên của Hàn Sĩ Nguyên vừa ḷng người đọc đến mức độ nào, điều đó c̣n tùy thuộc ở cảm nhận riêng của mỗi người. Nhưng xin thành thật thưa rằng giữa một thời đại mà nhiều giá trị cổ truyền đang bị băng hoại, giữa một xă hội mà nhiều cá nhân đang bị cuốn hút vào nền kinh tế thị trường, trong đó không ít ng̣i bút cứ loay hoay khai thác thị hiếu tầm thường của các thượng đế dư tiền thừa của, th́ chỉ riêng một việc ông Hàn Sĩ Nguyên lao tâm lao lực hiệu đính, tân biên lại tác phẩm “Thạch Sanh Lư Thông” cũng đă là một công tŕnh rấtđáng trân trọng. Và có thể xem đây là một SỰ KIỆN trên thi đàn ở thời điểm chuyển tiếp giữa hai thiên niên kỷ vậy.
V́ thế, xin trân trọng giới thiệu THẠCH SANH LƯ THÔNG TÂN BIÊN đến cùng quư độc giả, theo đúng như tinh thần của hai câu thơ kết :
Bút hoa ghi chép vội vàng
Chỉ mong hậu thế vẹn đàng nghĩa nhân.
Tháng 12 năm 2000
Nhà văn VŨ HẠNH
Hỏi rằng con suối có về hay không
Hỏi rằng con suối có về hay không ?
Trời Virginia vào xuân mà mưa lạnh giá. Rừng phong đă trổ lá xanh non. Những con đường lên cao xúông dốc như những gịng suối quanh co của núi đồi Đà Lạt. Chắc hẳn Virginia sẽ rất đẹp khi mùa thu tới. Lá phong sẽ nhuốm mầu đỏ, vàng . Đi rong rêu trên thảm lá vàng trong rừng , nghe gió hú , có lẽ cũng sẽ tuyệt lắm ?
Ta sẽ nh́n thấy Rừng phong Virginia mùa thu chứ ? Tôi tự hỏi. Và ḷng bâng khuâng.Chưa biết ! Có những điều toan tính rồi lại trượt dài . Có những điều không định mà buộc không thôi !
Anh đă hỏi tôi “ Con súôi có về hay không ? Tôi không biết nói sao ? Ḷng tôi bâng khuâng . Ngổn ngang trăm mối. Lá rụng về cội nhưng cội ơi , lá đă xin nhận nơi này làm quê hương ?
Ngưởi hỏi rằng con suối vội vàng đi đâu Trăm năm núi đợi bạc đầu Hoa rơi nuớc cuốn Bềnh bồng muôn nơi Bạc ḷng chi lắm suối ơi !
Con suối đă vội vàng ra đi khi mùa xuân vừa về trên thành phố thân yêu .Nơi ấy, tôi đă lớn lên với biết bao kỷ niệm của môt thời thơ ấu, thời học tṛ và thời sinh viên hoa mộng . Vội vàng chi để núi đợi bạc đầu ? Tôi cúi đầu , chăp hai tay trước cằm. Cử chỉ ấy đă bỏ quên –hững hờ từ thuở Saigon mất tên – giờ đây nơi đất khách –lại trở về khi nghe thủ thỉ “ Bạc ḷng chi lắm suối ơi ? “ Tôi bỗng dại khờ, ngây thơ như là mười tám !
Người hỏi rằng con suối có về hay không Thiên thu thác ghềnh đau ḷng Miên man tuyết giá Ngọn nguồn mông lung Biển xanh dậy sóng chập chùng ...
Nguời đừng hỏi nữa. Con suối đang đơn độc nơi Rừng Gió . Lá phong c̣n xanh nơn, chưa nhuốm thu vàng và súôi c̣n mải miên man .. Đi t́m cho ta- môt cái ǵ nơi góc trời này đây ? Hay súôi ơi, cuộc đời có bao lâu mà hững hờ và suối múôn phiêu du vô định măi ? v́ khi dừng chân là những nẻo đường đă không c̣n quyến rũ ?
Suối ơi ngàn dặm về đông Biết khi nào mới trùng phùng Dạt dào con suối xa nguồn Nghẹn ngào vách đá buồn hơn Lạnh lùng khe núi lệ tuôn
Tôi nghe ḷng nức nở . Nguời kêu gọi con suối về đông và khe núi lệ tuôn. Nhưng , súôi đă chọn và sẽ măi miên man . Bao giờ con súôi về đông ? Nào ai biết ?
Người nhủ thầm qua lúc chớp giật mưa tuôn Mưa sa nuớc đổ xuống nguồn Chim ca khắp chốn Đầy vườn hoa thơm Để cho núi đá thôi (à a) buồn ...
Đêm khuya. Tôi và anh-cách nhau nửa ṿng trái đất . Đêm của tôi và ngày của anh. Những gịng chữ như nối lại gần hơn khỏang cách ngh́n trùng
- Suối về hay không ?
Lại câu hỏi lần hai. Tôi không muốn gơ . Dối ḷng chi, đá ơi ? Hăy để ḍng đời trôi như mùa đông hoa đào nở , như tuyết phủ trắng trời và khi xuân về th́ đào rụng ven sông và tuyết chảy ra ngàn biển cả !
Phải chi ta gặp em trước khi em ra đi
Anh gọi thiết tha. Tôi cứ tin là vậy đi. Con trai Chu Văn An –vẫn muôn đời nói dối và con gái Gia Long –vẫn muôn đời khờ khạo !
Đă bao lâu, con suối lang thang ? không nhớ nữa. Dừng chân ở thành phố t́nh nhân, xứ hoa anh đào này lâu hơn hết thẩy ! Để đêm đêm lại nghe gọi từ xa
Bắc kỳ ơi, M đâu rồi ? Rau muống ơi, lang thang đến đâu rồi ?
Ḷng tôi đă vui khi nghe gọi từ cùng một vùng đất khách . Nhưng đêm nay, từ quê hương, từ Saigon , nghe hỏi rằng Con suối có về hay không th́ ḷng tôi nức nở !
Rừng Gió –mùa xuân
Ḥang Lan Chi
Xin mời xem bài thơ của Hàn Sĩ Nguyên và click vào nút AUDIO để nghe nhạc, xem lời bản nhạc Hỏi rằng con suối đi đâu ?
THƠ HỎI RẰNG CON SUỐI ĐI ĐÂU ?
Hỏi rằng con suối đi đâu ? Trăm năm ghềnh đá bạc đầu chờ mong Hoa rơi nước cuốn theo ḍng Cho ta nhắn gửi nỗi ḷng hoa ơi Suối đi cuối đất cùng trời Trùng phùng biển cả, đơn côi núi rừng Nước trôi róc rách mông lung Miên man sương lạnh, mênh mông câu thề Suối đi, suối có trở về ? Đầu ghềnh trơ đá, đáy khe sũng buồn Đêm qua chớp giật mưa tuôn Dạt dào con suối xa nguồn về xuôi Bạc ḷng chi lắm suối ơi An Tây ghềnh đá suốt đời trông theo